Hotline: (08)38802469 - 0903 722 552
Danh mục sản phẩm
Hỗ trợ trực tuyến

Mr Định
PGĐ Kinh Doanh-kỹ thuật
0903753793

Trần Phương Duy
Kỹ Thuật Điện
0909023113
Sản phẩm mới
Tin tức
BẢNG THÔNG TIN

QC 1

GIẢI PHÁP HỖ TRỢ NGÀNH CƠ KHÍ CHẾ TẠO PHÁT TRIỂN

Thời gian qua, ngành CKCT trong nước đã có những bước phát triển vượt bậc: đã chế tạo được giàn khoan dầu khí tự nâng 90m nước; đóng tàu trọng tải lớn; các thiết bị siêu trường, siêu trọng, bồn bể, lọc bụi tĩnh điện cho nhà máy nhiệt điện, xi-măng; thiết bị cơ khí thủy công cho các công trình thủy điện lớn; bơm, quạt, câủ trục cỡ lớn; lắp ráp ô-tô tải, xe khách; động cơ đi-ê-den, máy nông nghiệp; giàn không gian; máy biến áp 110/220/500 kV... Tuy nhiên, tình trạng chung của hầu hết các DNCK trong nước đều thiếu vốn; công nghệ, thiết bị chế tạo còn lạc hâụ, sản xuất còn manh mún, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao về sản phẩm công nghệ cao; vốn ít, việc tiếp cận vốn của ngân hàng với lãi suất thấp hết sức khó khăn. Việc đầu tư của ngành CKCT những năm qua còn phân tán và chưa đồng bộ, chưa có một cơ sở chế tạo nào đủ mạnh làm đòn bâỷ thúc đâỷ toàn ngành. Việc phôí hợp liên kết chưa thực hiện được cũng vì thiếu những chuyên ngành cơ khí cần thiết như các dự án sản xuất phôi thép rèn, đúc chất lượng cao, khối lượng lớn, áp dụng công nghệ tiên tiến; thiếu các cơ sở có máy gia công chế tạo thiết bị lớn; thiêú nhân lực chất lượng cao cho ngành kể cả cán bộ hoạch định chính sách, quản lý, tư vấn, thiết kế, công nhân kỹ thuật có tay nghề...
         Đảng, Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách hỗ trợ ngành CKCT phát triển. Tuy nhiên, Chủ tịch VAMI Nguyễn Văn Thụ đánh giá, các chính sách chưa đi vào cuộc sống do nhiều nguyên nhân, thí dụ như Quyết định số 1791/2012/QĐ-TTg ngày 29-11-2012 của Thủ tướng Chính phủ về "Phê duyệt cơ chế thực hiện thí điểm thiết kế, chế tạo thiết bị trong nước của các nhà máy nhiệt điện giai đoạn 2012-2025" đến nay đã được một năm nhưng việc triển khai vẫn giậm chân tại chỗ. Nguyên nhân đơn giản vì các chủ đầu tư chưa thu xếp được nguồn vốn. Hoặc Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 494/CT-TTg về sử dụng vật tư, hàng hóa sản xuất trong nước trong công tác đấu thầu các dự án sử dụng vốn ngân sách, song hơn ba năm qua, tình hình chưa có biến chuyển lớn. Chủ trương của Đảng, Nhà nước đều xác định: Đến năm 2020, nước ta cơ bản là một nước công nghiệp. Trong đó, coi cơ khí là một ngành công nghiệp nền tảng, có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hôị, bảo đảm độc lập tự chủ về kinh tế, củng cố an ninh, quốc phòng. Một nước công nghiệp đương nhiên không thể không phát triển ngành cơ khí, chế tạo máy, công nghiệp nặng. Trong khi, thời gian từ nay đến năm 2020 thật ra không còn nhiều. Ở tầm vĩ mô, chúng ta đã có những quyết sách mạnh và đâỳ đủ, song đáng tiếc là những chủ trương, chính sách này chưa được thấu suốt từ trên xuống dưới, nhất là ở cấp bộ, ban, ngành.
            Chúng ta cũng thiếu cơ chế về thị trường và chính sách bảo hộ sản xuất trong nước phù hợp thông lệ quốc tế, thiếu các biện pháp linh hoạt để bảo hộ thị trường trong nước mà không vi phạm các cam kết quốc tế như sử dụng hàng rào thuế quan, hàng rào kỹ thuật, áp dụng Luật Chống bán phá giá, thưởng xuất khâủ, hoặc sử dụng tiếng nói của các tổ chức ngành nghề, hiệp hôị... Hiện nay, chúng ta đang áp dụng Luật Đấu thầu một cách cứng nhắc bởi chúng ta hầu như bỏ điều khoản nêu xuất xứ thiết bị để có hệ số đánh giá các tiêu chuẩn kỹ thuật và giá trị. Như vâỵ, chúng ta đã vô tình biến "đấu thầu" thành "đấu giá". Đây cũng là nguyên nhân chính khiến hâù hết các gói thâù EPC, nhất là các dự án nhiệt điện đêù rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc.
           Từng nghiên cứu rất kỹ thị trường nước ngoài, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Tổng Công ty Thiết bị điện Đông Anh (EEMC) Trần Văn Quang khẳng định, các nước, nhất là Trung Quốc, Nhà nước đều có các chính sách bảo hộ, hỗ trợ rất mạnh để xuất khâủ sản phẩm cơ khí sang Việt Nam bằng các biện pháp rất linh hoạt mà không hề vi phạm thông lệ quốc tế. Vì thế, họ có thể hạ giá sản phẩm khi đấu thầu quốc tế mà chẳng nước nào có thể đọ nôỉ. Do đó, không có lý gì chúng ta không kiên quyết bảo hộ sản phẩm trong nước.
           Theo số liêụ của Bộ Công thương, từ năm 2013 đến 2025, tổng vốn đầu tư cho các ngành công nghiệp nước ta lên tới gần 290 tỷ USD, trong đó ngành điện 86,3 tỷ USD; dầu khí 92,5 tỷ USD, than 24,1 tỷ USD; thép 12 tỷ USD; giâý 12,8 tỷ USD... Trong đó, giá trị thiết bị chiếm từ 70 đến 75%, tương đương khoảng 202 tỷ USD, là số tiền cực lớn. Nêú chúng ta đặt mục tiêu trong 15 năm tơí, ngành CKCT trong nước đáp ứng được 30% của tổng mức đâù tư trên thì vơí giá trị này, chúng ta đã góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, giảm nhập siêu, tạo việc làm, bảo đảm an sinh xã hôị rất lớn.
Giải pháp gỡ khó để phát triển
 

 
 Chủ tịch VAMI Nguyễn Văn Thụ đúc kết: Qua các DNCK trên cho thấy, những đơn vị nào biết "lo xa" đâù tư, đôỉ mơí công nghệ thật sự; đi sâu vào chuyên môn CKCT; nâng cao chất lượng sản phẩm và nâng cao hàm lượng giá trị công nghệ, tham gia vào chuỗi giá trị cung ứng của các tập đoàn lớn, xuất khâủ được sản phẩm, hợp tác hóa rộng... thì vẫn phát triển, tiêu thụ tốt sản phẩm, bảo đảm thu nhập khá và ổn định cho người lao động. Trong khi đó, những DNCK nào ít chịu đâù tư chiều sâu, sản phẩm hàm lượng giá trị thấp (kết cấu thép đơn thuần) thì khó đứng vững trên thị trường. Do đó, VAMI cũng như các DNCK mong mỏi Chính phủ cần sớm thay đôỉ Luật Đấu thầu năm 2005, có cơ chế bảo hộ sản phẩm cơ khí trong nước mà không vi phạm các cam kết quốc tế, nhất là nghiên cứu các hàng rào kỹ thuật nhằm loại bỏ những sản phẩm cơ khí, thiết bị máy móc giá rẻ nhưng chất lượng thấp. Đối với những dự án đầu tư và mua sắm sử dụng vốn ngân sách, trái phiếu Chính phủ bắt buộc trong hồ sơ mời thầu phải có tiêu chí đánh giá về tỷ lệ bắt buộc sử dụng vật tư, thiết bị, các sản phẩm cơ khí trong nước mà bảo đảm yêu câù kỹ thuật. Hoặc chia nhỏ các gói thầu, trong đó gói thầu thiết bị phụ trợ do trong nước thực hiện.
           Trong điều kiện như hiện nay, với lãi suất ngân hàng đang áp dụng thì các DN vẫn còn rất khó khăn và vơí các DNCK còn khó khăn gấp bôị. Đặc thù của ngành CKCT là đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn, trong khi lơị thuận thấp hơn các ngành khác, thời gian thu hồi vốn cũng lâu hơn rất nhiều. Do đó, Chính phủ và các bộ, ngành cần nghiên cứu có cơ chế tín dụng ưu đãi cho ngành CKCT, nhất là đôí với các sản phẩm cơ khí trọng điểm; tạo điêù kiện cho các DNCK được tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi, kể cả nguồn vốn vay từ các tổ chức quốc tế; xem xét giảm lãi suất vay xuống dươí 5% cho ngành cơ khí chế tạo. Trong ngành này, lâu nay vẫn tồn tại một nghịch lý là để thu hút đầu tư của nước ngoài, các thiết bị của dự án nhập khâủ vào Việt Nam được miễn thuế, trong khi các DNCK trong nước nhập khâủ vật tư chế tạo thiết bị thay thế nhập khâủ phải chịu thuế nhập khâủ (5 đến 20%) và thuế giá trị gia tăng (10%). Điều này vô tình chúng ta làm suy giảm đáng kể sức cạnh tranh của các DN trong nước.
          Việc đầu tư trang, thiết bị chế tạo của các DNCK cần vào trọng tâm, không dàn trải, trùng lặp. Chính phủ phối hợp các bộ, ngành, viện nghiên cứu cơ khí chuyên ngành nghiên cứu giao đề tài chế tạo cụ thể nhất là đôí vơí các nhóm sản phẩm cơ khí trọng điểm, giao trách nhiệm cụ thể và cấp kinh phí cho các DNCK. Nhà nước xem xét cấp kinh phí cho các DN mua bản quyền thiết kế, thuê chuyên gia nước ngoài thực hiện công tác chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực tư vấn trong tiếp nhận thiết kế. Tập trung đầu tư nâng cao năng lực thiết kế, tư vấn. Có giải pháp mạnh hỗ trợ các DNCK trong nước thông qua cơ chế tạo đơn hàng, chỉ định thâù hoặc đấu thầu trong nước mà các DNCK có thể đáp ứng được, nhất là các gói thầu EPC quy mô lớn.
          Bản thân các DNCK cũng cần phải đôỉ mới, năng động, tự vươn lên trong cơ chế thị trường, không nên quá ỷ lại vào sự bảo trợ của Nhà nước. Tăng cường liên kết, tham gia các chuôĩ giá trị cung ứng của các tập đoàn lớn trên thế giơí. Tích cực tìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khâủ sản phẩm cơ khí. Tăng cường chuyên môn hóa sâu, hợp tác sâu, tránh đầu tư trùng lắp và cạnh tranh gây thiệt hại cho DN và nền kinh tế. Các DNCK, viện nghiên cứu chuyên ngành, trường đại học... cần tăng cường hợp tác, liên kết, tận dụng tôí đa năng lực thiết bị, thế mạnh của từng đơn vị. Tích cực nghiên cứu các đề tài khoa học - kỹ thuật có tính thực tiễn, ứng dụng khả thi trong thực tế sản xuất và có thị trường tiêu thụ.

Tin tức khác:

Nhật chế tạo lưới dọn rác trong vũ trụNhật chế tạo lưới dọn rác trong vũ trụ

Tổng quan công nghệ cắt bằng tia nướcTổng quan công nghệ cắt bằng tia nước

Xu hướng sử dụng vật liệu mài: Giấy nhám thay cho đá màiXu hướng sử dụng vật liệu mài: Giấy nhám thay cho đá mài

Thép Việt Nam tiêu tốn điện gần gấp đôi Nhật BảnThép Việt Nam tiêu tốn điện gần gấp đôi Nhật Bản

NƠI CHỈ CÓ MỒ HÔI SÁNG TẠONƠI CHỈ CÓ MỒ HÔI SÁNG TẠO

Quy định kê khai thép không gỉ cán nguội nhập khẩuQuy định kê khai thép không gỉ cán nguội nhập khẩu

Nghề Cơ khí – Chọn 1 nghề làm nhiều ngànhNghề Cơ khí – Chọn 1 nghề làm nhiều ngành

Khách hàng tiêu biểu:

  • CTY KHANG NÔNG
  • CTY BIO MEKONG
  • CÔNG TY TMTM
  • CÔNG TY TNHH TÂN HÙNG THÁI
  • CÔNG TY CP CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG
  • SPA NGỌC ÁNH
  • CÔNG TY TNHH 1 THÀNH VIÊN GIA NHI
  • CÔNG TY PHƯỚC HƯNG
  • ASIFAC
  • DNTN ĐĂNG KHOA - BẾN TRE
  • THẠCH DỪA MINH CHÂU
  • TRÀ TRÂM ANH
  • CÔNG TY CỔ PHẦN PHÂN BÓN VIỆT MỸ
  • CÔNG TY BIO